
Vay tiền với lãi suất 4%/tháng rồi cắt đứt liên lạc
Khoảng tháng 4/1995, bà Nguyễn Thị N. cùng vợ chồng Nguyễn Thị Diệu H. và Mai Văn T. góp vốn kinh doanh sản xuất, buôn bán gỗ dán.
Đến đầu năm 1996, bà N. không tiếp tục làm ăn chung với vợ chồng H. và T. nữa. Sau khi tất toán vốn và lãi, bà N. có 140 triệu đồng trong phần vốn chung. Vợ chồng H. và T. thỏa thuận vay lại số tiền này để tiếp tục kinh doanh, cam kết trả lãi 4%/tháng.
Để tạo lòng tin, vợ chồng H. và T. đưa bà N. xem bản di chúc của ông Mai Văn T1, bố đẻ của T., với nội dung cho vợ chồng một phần đất rộng 60m2 trong thửa đất 180m2.
Do cần vốn làm ăn, vợ chồng H. và T. tiếp tục vay tiền của bà N. nhiều lần. Đến ngày 6/11/1996, hai bên chốt tổng số nợ là 273 triệu đồng, gồm 10.000 USD quy đổi thành 110 triệu đồng và 163 triệu đồng tiền Việt Nam. Cả hai cùng ký giấy vay tiền, cam kết trả lãi đều đặn và thanh toán khi bà N. thông báo trước 15-20 ngày.

Sau đó, H. lấy lại tờ di chúc, thay bằng bản photocopy hồ sơ xin phép xây dựng toàn bộ thửa đất 180m2 của ông T1 để bà N. yên tâm.
Tuy nhiên, khoảng tháng 2/1996, vợ chồng H. và T. đã thế chấp phần nhà, đất được chia thừa kế tại ngân hàng để vay 100 triệu đồng. Việc làm ăn thua lỗ, không có khả năng thanh toán nên hai người bỏ trốn khỏi nơi cư trú vào đầu tháng 11/1996, nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ và cắt đứt liên lạc với bà N.
Ngày 28/11/1996, bà N. đến Công an huyện G., Hà Nội, trình báo việc bị chiếm đoạt 273 triệu đồng.
Đến ngày 24/4/2019, H. và T. đến Công an phường T., Hà Nội, đầu thú. Tại cơ quan điều tra, cả hai thừa nhận việc vay tiền của bà N. rồi bỏ trốn.
Quá trình điều tra, cơ quan chức năng xác định số tiền 10.000 USD vào thời điểm từ tháng 9 đến tháng 11/1996 tương đương khoảng 110,25-110,33 triệu đồng. Áp dụng nguyên tắc có lợi cho các bị cáo, số tiền này được xác định là 110 triệu đồng, tổng khoản vay bị chiếm đoạt là 273 triệu đồng.
Bồi thường 465 triệu đồng, chồng đi tù, vợ hưởng án treo
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 26/8/2026, H. và T. thừa nhận hành vi phạm tội. HĐXX xác định hai bị cáo nhiều lần vay tổng cộng 273 triệu đồng của bà N. rồi bỏ trốn, đủ yếu tố cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Theo nhận định của tòa, hành vi của hai bị cáo xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân. Việc lợi dụng sự tin tưởng của người quen để vay tiền kinh doanh rồi bỏ trốn khiến bà N. lo lắng, lâm vào tình trạng quẫn bách do số tiền bị chiếm đoạt rất lớn tại thời điểm đó.
HĐXX ghi nhận các bị cáo không có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Cả hai đã đầu thú; bố của T. có công với cách mạng, được tặng huân chương, huy chương kháng chiến.
Ngoài ra, hai bị cáo đều đã cao tuổi, có nhiều bệnh tật, không có việc làm ổn định và thu nhập. Bị cáo H. còn mắc bệnh trầm cảm. Đây là những căn cứ được tòa xem xét khi quyết định giảm nhẹ hình phạt.
Theo bản án, bà N. đã nhận tổng cộng 465 triệu đồng tiền bồi thường, khắc phục hậu quả. Sau khi nhận tiền, bà không yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo.
Luật sư bào chữa đề nghị cho cả hai bị cáo hưởng án treo, trong đó có T. Tuy nhiên, HĐXX cho rằng hai bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, giá trị tài sản tại thời điểm phạm tội lớn, gây ảnh hưởng đáng kể đến tinh thần của bị hại. Việc bỏ trốn trong thời gian dài cũng ảnh hưởng đến hoạt động điều tra, truy tố.
HĐXX nhận định đã cân nhắc hoàn cảnh của hai bị cáo, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và quyết định cho H. được cải tạo ngoài xã hội; đối với T., không chấp nhận đề nghị cho hưởng án treo.
HĐXX tuyên phạt T. 36 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. H. cũng bị tuyên phạt 36 tháng tù nhưng được hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án.
Bị cáo H. được giao cho UBND phường Y., Hà Nội, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Tòa không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo, đồng thời miễn án phí hình sự sơ thẩm do cả hai là người cao tuổi và có đơn xin miễn, giảm án phí.
(Bài viết dựa trên Bản án số 401/2026/HS-ST ngày 26/8/2026 của TAND Khu vực 5 TP Hà Nội).

Theo VietNamnet